25/04/2022
DINH DƯỠNG TRONG THỦY HẢI SẢN
(phần 2)
------------------------------------------------------------------------
TRONG PHẦN NÀY CHÚNG TA SẼ BÀN VỀ ĐẶC TÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA VITAMIN TAN TRONG NƯỚC
Nhóm vitamin tan trong nước bao gồm vitamin nhóm B, vitamin C,... có một giá trị dinh dưỡng rõ rệt.
VITAMINS NHÓM B
Vitamin nhóm B gồm viatamin B1, B2, B6, B12,… chúng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sống của động vật thủy sản. Thiếu vitamin nhóm B, chúng thường xuất hiện những triệu chứng bệnh lý, ảnh hưởng đến sức khỏe và thiệt hại đáng kể đến hiệu quả sản xuất.
+ Vitamin B1: có chức năng là co-enzyme trong biến dưỡng carbohydrate. Do đó nó cần thiết cho động vật thủy sản tăng trưởng và hoạt động sinh sản bình thường. Thức ăn chứa nhiều năng lượng cần bổ sung thêm loại vitamin này. Cá ăn tạp thường có nhu cầu vitamin B1 cao hơn cá ăn động vật. Nhu cầu vitamin B1 ở cá thấp khoảng 1- 15 mg/kg, trong khi ở tôm biển mức đề nghị là 60 mg/kg. Dấu hiệu rõ nhất khi động vật thủy sản ăn thức ăn thiếu vitamin B1 là sinh trưởng giảm và dấu hiệu này hường xuất hiện sau 8-10 tuần.
+ Vitamin B2: là co-enzyme cho nhiều phản ứng oxy hóa khử và trao đổi ion. Nhu cầu vitamin B2 khoảng 8-10mg/kg thức ăn cho loài cá chép, cá trơn và 25 mg/kg cho tôm. Các dấu hiệu thường gặp ở cá thiếu vitamin B2 là giảm sinh trưởng, thiếu máu, sợ ánh sáng, xuất huyết da, vây…; ở tôm là nhạt màu, dễ bị kích thích, có dấu hiệu khác thường trên vỏ.
+ Vitamin B6: là co-enzyme cho phản ứng decarboxyl hóa cho các acid amin nên vitamin B6 liên quan đến sự biến dưỡng protein. Dấu hiệu thiếu vitamin B6 tăng lên khi thức ăn có hàm lượng protein cao. Vì vậy vitamin B6 đóng vai trò quan trọng đối với những loài tôm cá ăn động vật. Nhu cầu vitamin B6 ở cá khoảng 5-10 mg/kg cho cá. Trong khi ở tôm được đề nghị là 50–60 mg/kg. Các dấu hiệu bệnh lý thường gặp khi cá ăn thức ăn thiếu vitamin B6 là rối loạn thần kinh, giảm khả năng miễn dịch, thiếu máu… Dấu hiệu này biểu hiện ở cá chép sau 4-6 tuần và ở cá trơn sau 6- 8 tuần (Deshimaru, 1979). Tôm ăn thiếu vitamin B6 sẽ chậm sinh trưởng và tỉ lệ chết cao.
+ Vitamin B12: cần cho quá trình thành thục và phát triển phôi. Đối với tôm, vitamin B12 giữ vai trò quan trọng trong tổng hợp nucleotic, protein, biến dưỡng carbohydrat và chất béo. Cả động vật và thực vật đều không có khả năng tổng hợp vitamin B12, nó có thể được tổng hợp bởi vi khuẩn đường ruột của một số loài cá như cá trơn, cá rô phi, cá chép. Nghiên cứu nhu cầu vitamin B12 cho tôm cá còn rất hạn chế, nhu cầu cho cá hồi được đề nghị là 0,015 –0,2 mg/kg, đối với tôm là 0,2mg/kg thức ăn. Biểu hiện thiếu vitamin B12 chưa thể hiện rõ ở các loài, biểu hiện thường thấy là giảm sinh trưởng.
VITAMIN C
Vitamin C được xác định là rất quan trọng cho động vật thủy sinh bởi vì trong khi hầu hết các động vật khác có khả năng tổng hợp vitamin C từ glucuronic acid thì cá và giáp xác lại thiếu enzyme cần thiết cho quá trình tổng hợp. Chính vì thế vitamin C của động vật thủy sản được hấp thu chủ yếu từ thức ăn.
Vitamin C có vai trò quan trọng trong trao đổi chất, nó tham gia vào quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật bởi việc tạo thành collagen (chất tăng cường các phản ứng miễm dịch và sức đề kháng bệnh của tôm cá), tổng hợp corticosteroids (chất có liên quan đến khả năng chịu đựng của tôm cá). Thức ăn có hàm lượng vitamin C cao có lợi ích cho việc giảm sốc của cá. Vitamin C giúp cho sắt (Fe) được hấp thụ tốt do đó ngăn ngừa được hiện tượng thiếu máu.Thức ăn thiếu vitamin C là nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng bệnh lý như bệnh vẹo cột sống ở cá và bệnh chết đen ở tôm. Ở giai đoạn ấu trùng tôm cá cần nhiều vitamin C hơn giai đoạn trưởng thành, nó không những làm gia tăng tốc độ sinh trưởng mà còn làm tăng sức đề kháng của ấu trùng.