Vỗ Béo Vật Nuôi 036.735.4081

Vỗ Béo Vật Nuôi 036.735.4081 Vỗ béo vật nuôi
Tăng chất lượng thịt
Tăng sức đề kháng

23/10/2021

💥Dành cho gia đình đang chăn nuôi
⭐️Rút ngắn thời gian chăn nuôi 25-30 ngày
☘️Giảm thiểu chi phí vốn lên đến 30%
-----------------------------
🔴Có đầy đủ sản phẩm cho gia cầm, gia súc và thủy cầm
-> Tăng 30% Hiệu quả chăn nuôi
-> Xuất chuồng sớm từ 25 - 30 ngày
-> Rút ngắn 1/3 thời gian chăn nuôi
-> Gia tăng kinh tế đàn vật nuôi
Nhà máy 3, Lô 3, KCN Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội
MIỄN PHÍ VẬN CHUYỂN toàn quốc, kiểm tra hàng trước khi thanh toán
☎ Liên hệ: 0367.354.081 để được tư vấn và đặt hàng

23/10/2021

🔥 Chỉ 1 thìa/ngày. Vật nuôi siêu lớn - siêu béo
🍀 Vỗ béo vật nuôi an toàn, hiệu quả nhanh
-> Tăng 30% Hiệu quả chăn nuôi
-> Xuất chuồng sớm từ 25 - 30 ngày
-> Rút ngắn 1/3 thời gian chăn nuôi
-> Gia tăng kinh tế đàn vật nuôi
🔔Có đầy đủ sản phẩm cho gia cầm, gia súc và thủy cầm
☎ Liên hệ: 0367.354.081 để được tư vấn và đặt hàng
🔥 Nhà máy 3, Lô 3, KCN Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội
Vận chuyển toàn quốc giao hàng tại nhà , nhận hàng + kiểm tra + thanh toán

👉 Chỉ 3k/ngày - Vật nuôi siêu lớn - siêu béo💥 Lớn nhanh, ngủ khỏe, hấp thu tốt💥 B**g mông, nở ngực, tăng chất lượng thịt...
23/10/2021

👉 Chỉ 3k/ngày - Vật nuôi siêu lớn - siêu béo
💥 Lớn nhanh, ngủ khỏe, hấp thu tốt
💥 B**g mông, nở ngực, tăng chất lượng thịt
=> Rút ngắn 1/3 thời gian chăn nuôi , tiết kiệm chi phí
=> Tăng chất lượng thịt, tăng nạc, nở ức, bụng đùi
=> Tăng lợi nhuận gấp 3 lần
Hiệu quả sau 10 - 15 ngày sử dụng sản phẩm
-----------------------
📌 Có đầy đủ sản phẩm cho gia súc, gia cầm, thủy hải sản…
📞 Liên hệ ngay 0367.354.081 để nhận báo giá và tư vấn
Địa chỉ: Nhà máy 3, lô 3, KCN Phú Thị, Gia Lâm, HN

Nhân ngày Trứng Thế giới 2021: Thị trường Trứng Đông Nam Á trong bối cảnh dịch bệnh09/10/2021[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam...
09/10/2021

Nhân ngày Trứng Thế giới 2021: Thị trường Trứng Đông Nam Á trong bối cảnh dịch bệnh
09/10/2021
[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Ngày Trứng Thế giới (World Egg Day) được tổ chức trên toàn thế giới vào Thứ Sáu, tuần thứ 2 của tháng 10 hàng năm, kể từ năm 1996 với mục đích giúp nâng cao nhận thức về lợi ích của quả trứng và tầm quan trọng của chúng đối với dinh dưỡng con người.Năm 2021, ngày Trứng Thế giới diễn ra vào ngày 08/10/2021, đánh dấu kỷ niệm 25 năm thành lập, với chủ đề chính là “Eggs for all: Nature’s perfect package” (tạm dịch: Trứng cho tất cả: Món quà hoàn hảo của thiên nhiên).



Món quà hoàn hảo của thiên nhiên



Trứng là một trong những nguồn thực phẩm tự nhiên giàu chất dinh dưỡng nhất trên hành tinh. Tính tốt lành toàn diện của nó có thể được thu hút bởi tất cả mọi người, từ 1.000 ngày đầu tiên của cuộc đời cho đến khi về già.Bên cạnh đó, trứng còn là một nguyên liệu vô cùng linh hoạt, dùng được cho cả món ngọt và món mặn. Từ món trứng luộc khiêm tốn đến món súp của đầu bếp bậc thầy, trứng có một vị trí quan trọng như một thành phần trong nhiều công thức nấu ăn. Không có quốc gia nào trên thế giới không sử dụng rộng rãi trứng trong các món ăn truyền thống của mình.



Trứng không chỉ ngon mà còn bổ dưỡng, là nguồn cung cấp protein chất lượng cao và ít calo. Ngoài protein, trứng còn chứa vitamin B, D và một tỷ lệ tốt các khoáng chất quan trọng đối với sức khỏe. Chúng thậm chí còn được đựng trong một thùng bảo vệ có thể phân hủy sinh học. Bên cạnh những lợi ích dinh dưỡng tích cực mà bạn nhận được từ việc ăn trứng, chúng tương đối rẻ.Cùng với nhiều lợi ích dinh dưỡng, trứng là loại protein có nguồn gốc động vật bền vững với môi trường và giá cả phải chăng nhất hiện có, giúp hỗ trợ các gia đình trên toàn thế giới cũng như chính hành tinh này.



Nhiều quốc gia hiện tham gia vào Ngày Trứng Thế giới, tổ chức rất nhiều sự kiện và hoạt động. Bao gồm, phát trứng miễn phí; các chương trình phát sóng quảng cáo và giáo dục trên các phương tiện truyền thông xã hội; những ngày vui học; và các cuộc thi và trình diễn nấu ăn.





Thị trường trứng các nước khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh dịch bệnhViệt Nam: Chủ yếu vẫn phục vụ thị trường nội địa



Theo TS. Đoàn Xuân Trúc, Phó Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam (AHAV), năm 2020, sản lượng trứng của Việt Nam đạt 14.540 triệu quả, trong đó trứng gà chiếm 71,8%, trứng vịt chiếm 28,2%. So với năm 2020, trong năm 2021 sản lượng trứng đã tăng lên 2,018 lần. Trung bình, tốc độ tăng trưởng về chỉ tiêu sản lượng trứng trong 10 năm trở lại đây của Việt Nam đạt 9,33%, tăng cao nhất trong toàn bộ các loại sản phẩm sản xuất của ngành chăn nuôi. “Đây có thể ghi nhận là nhờ sự kỳ công và đóng góp đáng quý của ngành gia cầm trong việc nâng cao chất lượng sống cho người Việt”, TS Đoàn Xuân Trúc chia sẻ.



Năm 2021, tính trung bình lượng tiêu thụ trứng của người dân Việt Nam đạt 149,37 trứng/người/năm, tăng gần 2 lần so với thời điểm năm 2011 (78 trứng/người/năm). Dự kiến, phấn đấu đến năm 2030 người Việt sẽ tiêu thụ trứng bình quân 220 trứng/người/năm, vào nhóm nước có ngành chăn nuôi gia cầm phát triển và đời sống khá.



Bên cạnh đó, TS. Đoàn Xuân Trúc cũng nhận định, hiện tại ngành trứng Việt Nam chủ yếu vẫn là phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa. Một số ít xuất khẩu sang các nước lân cận nhưng chủ yếu là trứng vịt, sản phẩm trứng muối. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây xuất khẩu có xu hướng giảm, đạt khoảng 20 triệu trứng/ năm. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã cho thí điểm xuất khẩu sản phẩm bột trứng sấy khô sang một số nước trong khu vực, song sản lượng không đáng kể.



Thời gian này, ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 khiến người nuôi gia cầm Việt Nam hạn chế tái đàn, do cả năm 2020 và các tháng đầu năm 2021 người nuôi phải bán dưới giá thành, nhu cầu tiêu dùng cũng ảnh hưởng do Covid-19, giá thức ăn chăn nuôi tăng cao liên tục… Nguồn cung thiếu đã đẩy giá trứng lên cao.Trái với tình hình thị trường trứng Việt Nam, tại Malaysia hiện nay ngành công nghiệp trứng đang phải đối mặt với tình trạng cung vượt cầu, giá trứng giảm sâu.



Ông Lee Yoon Yeau, Phó Chủ tịch Liên đoàn Hội người Chăn nuôi Malaysia (FLFAM) cho biết, làn sóng Covid-19 đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến ngành công nghiệp gia cầm của Malaysia, chi phí logistic, giá đầu vào nguyên vật liệu tăng mạnh, cùng với việc áp dụng sản xuất an toàn trong bối cảnh dịch bệnh đã đẩy chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng cao. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh, giá trứng vì thế cũng bị ảnh hưởng. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp đã tìm cách thúc đẩy tiêu thụ, mở rộng thị trường sang Macao để giải quyết tình trạng cung vượt cầu. “Để tránh tình trạng cung vượt cầu, chúng tôi đã tính đến phương án giảm công suất sản xuất của các nhà máy. Tình hình này kéo dài, những hộ sản xuất trứng gia cầm nhỏ lẻ rất có thể sẽ phải đối mặt với vấn đề giải thể trong 2 năm tới”, ông Lee Yoon Yeau nhận định.



Những năm gần đây, ngành công nghiệp trứng Malaysia được đánh giá là tương đối phát triển, sản xuất khoảng 30 triệu quả trứng/ngày. Trong đó, xuất khẩu khoảng 3 triệu quả trứng/ ngày sang thị trường Singapore. Đây là thị trường tiêu thụ trứng truyền thống của Malaysia, phần lớn đơn hàng xuất khẩu trứng đều tại thị trường này. Cách đây 2 năm, khi Singapore áp dụng chính sách với các nhà nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu trứng của Malaysia sang thị trường này đã giảm khoảng 5%. “Hiện tại, chúng tôi đang vận động Chính phủ ký kết các Hiệp định với Singapore để tăng cường kim ngạch xuất khẩu trứng sang thị trường lớn này”, ông Lee Yoon Yeau cho biết thêm.



Thái Lan: Mục tiêu tăng mức tiêu thụ đầu người lên 300 trứng/người/năm



Việc sản xuất trứng tại Thái Lan chủ yếu tập trung tại các trại quy mô lớn khu vực miền Trung và miền Đông Thái Lan. Thái Lan đang hướng đến việc đẩy mạnh, nâng cao tiêu chuẩn ứng dụng vào các trang trại. Hiện có khoảng 62% các trang trại cung ứng trứng trên thị trường nằm trong nhóm đạt chuẩn. Ngành trứng Thái Lan đã có sự điều phối, kết nối chặt chẽ giữa các bên liên quan thông qua Hội đồng trứng Thái Lan, đưa ra những chính sách, chiến dịch thường xuyên, linh hoạt để hỗ trợ ngành trứng thích ứng với thị trường. Nhờ đó, việc tiêu thụ trứng đã trở nên thuận lợi hơn.



Cũng theo Hội đồng Trứng Thái Lan, hiện tổ chức này đang triển khai kế hoạch hành động ‘Kinh doanh trứng bền vững’. Để triển khai thành công kế hoạch này, Thái Lan cần quản lý chặt chẽ chất lượng của gà bố mẹ, phát triển thành những trang trại đạt chuẩn. Chuẩn hóa các tiêu chuẩn về sản phẩm trứng xuất bán. Bên cạnh đó, Hội đồng trứng Thái Lan cho biết, sẽ có những chiến dịch truyền thông hướng đến việc nâng mức tiêu thụ trứng trên đầu người tại Thái Lan lên 300 trứng/ người/ năm.



Philippines: Còn nhiều dư địa để phát triển ngành trứng



Tại Philippines, trứng là nguồn thực phẩm được sản xuất phổ biến. Trứng tại Philippines đã đáp ứng đủ 4 tiêu chuẩn: giá cả phải chăng, khả năng cung ứng, chất lượng trứng và tính bền vững. Tuy nhiên, ngành trứng Philippines hiện vẫn có thể xuất hiện những rủi ro.



Dân số Philippines hiện đang là 110 triệu người, nhưng số lượng gà bố mẹ phục vụ cho sản xuất trứng mới chỉ đạt 64,4 triệu con. Sản lượng trứng năm 2020 đạt 74,16 triệu quả, với mong muốn mỗi người Philippines đều được ăn 1 quả trứng mỗi ngày thì Philippines vẫn còn nhiều dư địa để phát triển. Trong 3 năm qua, tăng trưởng trung bình ngành trứng nước này đạt 7,1%.



Năm 2021 đối mặt với sự bùng phát của dịch bệnh, nhu cầu tiêu thụ trứng giảm mạnh, nguồn cung tăng dẫn đến giá bán ra giảm khiến những nhà sản xuất trứng gặp nhiều khó khăn. Ảnh hưởng tới việc phát triển ngành trứng theo hướng bền vững. “Covid-19 nhìn chung đã thay đổi hệ thống chính sách lương thực của Philippines. Hiện tại, chúng tôi đặt mục tiêu có thể cung cấp đủ thực phẩm cho số lượng dân số ngày càng tăng trong bối cảnh bình thường mới và đảm bảo phát triển bền vững gắn liền với ngành trứng. Với tình hình như hiện nay, thách thức đối với chúng tôi đang là việc cải thiện mức tiêu thụ trứng nội địa”, bà Cecile Aldueza Virtucio, Giám đốc điều hành Hợp tác xã sản xuất trứng Batangas (BEPCO) chia sẻ.



Indonesia: Ngành gia cầm đóng vai trò chủ lực trong phát triển nền kinh tế nông nghiệp



Ngành gia cầm Indonesia hiện đang cung cấp 65% lượng đạm gia cầm cho cả nước, 10% lượng lao động của đất nước này đang làm việc trong lĩnh vực gia cầm. Một trong những bước tiến hóa của quốc gia này là đã hiện đại hóa được quy trình sản xuất trong chăn nuôi gà cũng như sản xuất trứng. Tại Indonesia, có hơn 51% trang trại sản xuất gia cầm thuộc phân khúc trại lớn với số lượng gia cầm lên tới hàng triệu con; 32% trang trại sản xuất gia cầm thuộc phân khúc trại trung bình với số lượng đầu con từ vài nghìn đến vài chục nghìn gà đẻ; 15% trại thuộc phân khúc quy mô nhỏ.



Theo thống kê, năm 2018, lượng tiêu thụ trứng tại Indonesia đạt 62 kg/người/năm (120 trứng/người/năm). Mức tiêu thụ này được đánh giá còn khá thấp, nhưng đang có chiều hướng tăng qua các năm. So sánh với một số quốc gia, hiện tại mức tiêu thụ trứng của người dân Indonesia đang thấp hơn so với các quốc gia như Malaysia, Úc, Philippine, Singapore…



Đối mặt với làn sóng Covid-19, các hộ chăn nuôi, sản xuất nhỏ lẻ tại Thái Lan đang đối mặt với nguy cơ thua lỗ. Thời điểm hiện tại, chỉ những trang trại sản xuất theo quy mô lớn, tiết kiệm chi phí mới có thể đảm bảo được biên độ lợi nhuận.

Giá lợn hơi tiếp tục giảm, có nơi dưới 40.000 đồng/kg08/10/2021Theo ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, ...
08/10/2021

Giá lợn hơi tiếp tục giảm, có nơi dưới 40.000 đồng/kg
08/10/2021
Theo ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá lợn hơi tiếp tục giảm và tính đến thời điểm hiện tại, giá bình quân đang dao động từ 40.000-49.000 đồng/kg tùy từng vùng.



Đặc biệt, có một số địa phương do giãn cách xã hội giá dưới 40.000 đồng/kg, lợn thịt quá lứa đang ứ đọng khoảng 30%.Trong 9 tháng năm 2021, giá lợn thịt lợn hơi xuất chuồng theo xu hướng giảm. Đặc biệt, tháng 3 và 4, lợn hơi có giá bình quân từ 70.000-75.000 đồng/kg, đến tháng 7 và 8/2021 giá bình quân còn từ 50.000-58.000 đồng/kg, có địa phương xuống dưới 50.000 đồng/kg.



Trong khi đó, giá thành sản xuất nếu chăn nuôi theo chuỗi từ nuôi lợn nái đến nuôi lợn thịt giá thành từ 45.000-50.000 đồng/kg. Chăn nuôi phải mua con giống giá thành khoảng từ 53.000-60.000 đồng/kg.



Như vậy, với mức giá lợn hơi trên thị trường hiện nay, người chăn nuôi cũng không còn thu được lợi nhuận như các tháng đầu năm 2021. So với giá bình quân năm 2020, mức giá hiện tại đã giảm mạnh từ 25.000-30.000 đồng/kg.



Mặc dù giá lợn hơi giảm mạnh nhưng giá thịt lợn tại các cửa hàng thịt, các chợ truyền thống và các siêu thịt vẫn cao do các chi phí liên quan đồng loạt tăng, đặc biệt là chi phí vận chuyển và chi phí phòng chống dịch.



Cùng với đó, đàn gia cầm tiếp tục phát triển nhưng nhu cầu thị trường các sản phẩm gia cầm cũng giảm. Bởi, tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp nên lượng gia cầm tồn đọng trong chuồng cao.



Đặc biệt, tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, các doanh nghiệp chăn nuôi trong tháng 8 và 9 chỉ tiêu thụ được từ 5-10% gà công nghiệp trắng.



Trong tháng 8, các tỉnh Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ gà công nghiệp quá tuổi xuất chuồng ứ đọng trên 9,3 triệu con, khối lượng khoảng trên 3,8 kg/con, trong khi bình thường xuất chuồng từ 1,8-2,5 kg/con, gà lông màu tiêu thụ được khoảng 70%. Tình trạng này làm cho người chăn nuôi lỗ rất nhiều.



Nhìn chung, do ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, khó khăn trong vận chuyển, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm giảm nhiều do khối khu công nghiệp, trường học, bếp ăn tập thể, khách sạn, nhà hàng, một số nhà máy giết mổ, chế biến, chợ truyền thống, chợ dân sinh phải đóng cửa… đặc biệt là 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Vì vậy, sản phẩm chăn nuôi ứ đọng quá tuổi, người chăn nuôi tăng nguy cơ thua lỗ.



Chỉ có các doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi theo chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ, cung cấp các kênh phân phối như siêu thị, hệ thống cửa hàng bán lẻ hiện đại vẫn đảm bảo tiêu thụ, giá bán được duy trì với mức ổn định.

Lợn chuyển gien đã được thử nghiệm nhằm ngăn chặn sự nhân lên của virus dịch tả lợn Châu Phi06/10/2021Theo kết quả nghiê...
06/10/2021

Lợn chuyển gien đã được thử nghiệm nhằm ngăn chặn sự nhân lên của virus dịch tả lợn Châu Phi
06/10/2021
Theo kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trên tạp chí Nature, 2018, nhóm tác giả Alexandra Hzigner, Bjorn Petersen, Günther M. Keil, Heiner Niemann, Thomas C. Mettenleiter và Walter Fuchs, Viện Friedrich- Loeffler, Greifswald-Insel Riems, Neustadt, Đức thông báo rằng tại Đức, các thí nghiệm sẽ sớm được tiến hành trên lợn chuyển gen nhằm chứng minh các tế bào miễn dịch có khả năng kháng Virus Dịch tả lợn châu Phi (ASFv).



Theo kế hoạch, các thí nghiệm sẽ được thực hiện vào tháng 5 năm 2020 để kiểm tra khả năng kháng ASF của lợn chuyển gen bằng cách gây nhiễm ASFv thực nghiệm. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, các thí nghiệm bị hoãn lại cho đến tháng 6 năm 2020.



THÀNH TỰU BƯỚC ĐẦU

Virus dịch tả lợn Châu Phi (ASF) tiếp tục lây nhiễm trong quần thể lợn nhà và lợn rừng ở Châu Phi, Châu Á và Châu Âu. Đã có nhiều nhóm nghiên cứu đã và đang đang nghiên cứu và phát triển một số loại vắc-xin và thuốc kháng virus để hạn chế và tiêu diệt hoàn toàn virus dịch tả lợn Châu Phi.



Một cách tiếp cận khác, được nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Bjorn Petersen – Viện Friedrich- Loeffler, Viện Nghiên cứu Thú y Liên bang Đức đã và đang tiến hành sử dụng công cụ chỉnh sửa gen để tạo ra những dòng lợn có khả năng chống lại virus dịch tả lợn Châu Phi.



Các thụ thể của virus trên tế bào vật chủ



Các nghiên cứu trước đây cho thấy việc chỉnh sửa gen có thể bằng cắt loại bỏ các gen mã hóa thụ thể của virus trên tế bào vật chủ (không có thụ thể trên tế bào, để virus mất khả năng bám và xâm nhập) hoặc bằng cách giúp vật chủ chống lại virus thông qua việc sản xuất ARN ‘hướng dẫn’ kháng virus. Trong phương pháp thứ hai, virus xâm nhập vào tế bào, nhưng RNA ‘hướng dẫn’ ngăn sự sao chép của virus, hoặc ngăn cản ‘gen tiền sinh’ của virus xâm nhập vào các tế bào khác.



Công cụ chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9



Trong các nghiên cứu trước đây, công cụ chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 đã được sử dụng thành công ở phòng thí nghiệm để tạo ra các tế bào chống lại sự lây nhiễm của virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và cộng cụ chỉnh sửa gen nay cũng tạo ra những đàn lợn có khả năng kháng virus gây Hội chứng sinh sản và hô hấp (PRRSv). Petersen giải thích rằng trong các thí nghiệm đó, các tế bào trên người đã kháng virus HIV bằng cách loại bỏ các thụ thể bề mặt tế bào miễn dịch T mà virus HIV cần thiết phải gắn vào. Cơ chế này diễn ra tương tự với lợn kháng PRRSv, nhưng với các tế bào miễn dịch được là các đại thực bào.



Chi tiết chỉnh sửa gen ASFv



Sử dụng CRISPR/Cas9, Petersen và nhóm nghiên cứu của ông đã đưa một cấu trúc di truyền từ vi khuẩn vào tế bào phôi lợn gọi là nguyên bào sợi (tế bào mô liên kết phổ biến nhất ở động vật). Quá trình chỉnh sửa gen này đã tạo ra một gen ‘cắt’ di truyền nhằm cắt bỏ các phần quan trọng trong bộ gen của virus và do đó phá hủy nó. Các tế bào chuyển gen này đã được thử nghiệm để kiểm tra tính ổn định của sự biểu hiện gen vi khuẩn đưa vào và kết quả cho thấy sự sao chép ASFv đã bị ngăn chặn. Petersen cho biết, “Chúng tôi thấy rằng sự biểu hiện của RNA ‘hướng dẫn’ kháng virus đã làm quá trình nhân lên của virus ASF chủng ‘Armenia’ giảm khoảng 10.000 lần. Ban đầu ASF chủng ‘Kenya’ miễn dịch với các gen ‘cắt’ di truyền, và nhóm nghiên cứu đã tạo ra các vec tơ mới nhằm biểu hiện một số RNA ‘hướng dẫn’ và kết quả này đã được áp dụng cho tất cả các chủng ASFv có liên quan.Các nguyên bào sợi sau đó được nhân bản để tạo ra lợn con. Các đại thực bào trong các mẫu máu từ những con lợn này đã được gây nhiễm thực nghiệm với ASFv. Kết quả cho thấy mức độ sao chép ASFv đã bị giảm.



Ức chế sự nhân lên của virus ASF



Các nghiên cứu tiếp theo cần khẳng định rằng RNA ‘hướng dẫn’ kháng virus này là đặc hiệu và ức chế hiệu quả quá trình nhân lên của virus và liệu các dòng tế bào liên quan có chống lại tất cả các biến thể ASFv tự nhiên hay không. Petersen lưu ý, “Mục tiêu đồng thời của các gen chỉnh sửa bằng hệ thống RNA kháng virus có thể làm tăng thêm hiệu quả của nó, đặc biệt là chống lại nhiều chủng và nhiều biến thể của ASFv. Để đạt được điều này, chúng tôi đã bắt đầu tạo ra một hệ thống tổ hợp vectơ CRISPR/Cas9. Trong tương lai, hệ thống CRISPR/Cas9 sẽ được hoàn thiện để hướng tới việc xóa các mục tiêu trong các gen khác của ASFv và các dạng virus này có thể giúp việc tìm hiểu chức năng của các gen khác nhau và cũng có thể dùng để tạo ra vắc-xin nhược độc hoặc vắc-xin sống đơn kỳ’.



Petersen cũng khẳng định rằng “Phương pháp này cũng có thể được điều chỉnh để sử dụng với các loại virus khó phát triển được vắcxin hoặc phương pháp điều trị, và phương pháp này cũng có thể sử dụng trong việc phát triển các loại thuốc mới”.



Chỉnh sửa gen là một vấn đề nhạy cảm trong Liên minh châu Âu. Thế hệ con của các động vật được chỉnh sửa gen được coi là sinh vật biến đổi gen ở EU, do đó những động vật này không thể được sử dụng để sản xuất thương mại. Tuy nhiên, chỉnh sửa gen được cho phép với mục đích nghiên cứu.

Nuôi heo, tận dụng nguồn chất thải trồng mía, trồng cỏ nuôi bò03/10/2021Nhờ áp dụng nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật, ông ...
03/10/2021

Nuôi heo, tận dụng nguồn chất thải trồng mía, trồng cỏ nuôi bò
03/10/2021
Nhờ áp dụng nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật, ông Tư nuôi heo luôn đảm bảo an toàn dịch bệnh. Ông còn tận dụng xử lý chất thải để trồng mía, trồng cỏ nuôi bò.



Sau 20 năm công tác trong quân đội, ông Cao Khắc Tư nghỉ hưu về địa phương ở tổ 1, phường Tây Sơn (Thị xã An Khê, Gia Lai). Nhận thấy mô hình chăn nuôi heo công nghiệp mang lại thu nhập cao, ông đi học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật chăn nuôi. Năm 2014, khi đã tương đối nắm vững kiến thức, ông Tư bắt tay vào xây dựng chuồng trại tại rẫy mía của gia đinh, cách khu dân cư hơn 2km.Để thuận tiện cho việc kiểm soát và tổ chức chăn nuôi, đồng thời đảm bảo vệ sinh môi trường, ông Tư chia khu nuôi nhốt thành 4 dãy chuồng, gồm có 2 dãy chuồng nuôi heo thịt, 1 dãy nuôi heo nái sinh sản và 1 dãy nuôi heo con. Chuồng nuôi được ông Tư thiết kế theo tự nhiên có cải tiến đảm bảo đông ấm, hè mát; được trang bị đầy đủ máng ăn, vòi uống nước tự động và hệ thống xử lý chất thải, hầm biogas…



Với khâu chọn giống, ông Tư tham khảo và chọn giống heo siêu nạc về nuôi. Trong quá trình chăn nuôi, ông Tư đặc biệt chú trọng đến việc vệ sinh chuồng trại, phòng ngừa dịch bệnh cho đàn heo. Theo đó, đàn heo được ông Tư tiêm đầy đủ các loại vacxin phòng bệnh; định kỳ mỗi tuần 1 lần ông rắc vôi bột xung quanh chuồng trại và cứ 3 ngày lại phun khử khuẩn một lần. Đặc biệt, ông không cho người lạ vào khu chăn nuôi, nhằm tranh lây nhiễm các loại bệnh.



Bên cạnh việc phòng bệnh, ông Tư cũng hết sức quan tâm đến việc ăn uống của đàn heo. “Nước giếng hay nước ao hồ, sông suối, trước khi bơm tới hệ thống vòi uống tự động đều phải được lọc kỹ càng, đồng thời bỏ Cloramin B vào để diệt khuẩn nhằm ngăn ngừa bệnh viêm đường ruột gây tiêu chảy cho đàn heo. Để không mua phải thức ăn kém chất lượng, ông mua cám tổng hợp ở các công ty có uy tín, chuyên cung cấp thức ăn gia súc.Nhờ áp dụng đúng quy trình kỹ thuật chăn nuôi, chủ động phòng ngừa dịch bệnh mà đàn heo của ông Tư luôn sinh trưởng phát triển khỏe mạnh, ít bị bệnh.



Ông Tư cho biết: Giống heo siêu nạc, xương nhỏ, thịt nhiều, khi chế biến thịt dai và thơm, được thị trường ưa chuộng. Vì thế, giá bán thường cao hơn các loại heo khác khoảng 20 ngàn đồng/tạ. Ngoài doanh thu, lợi nhuận thu về từ nuôi heo, ông còn tận dụng nguồn chất thải để trồng 3 ha mía, trồng cỏ nuôi bò.



Không chỉ mang lại thu nhập cao, trang trại nuôi heo của ông tư còn tạo việc làm cho 4 lao động với mức lương từ 10 – 12 triệu đồng/người/tháng (tùy công việc và thời điểm).



Anh Nguyễn Văn Bình (tổ 5, phường Tây Sơn) kể: “Trước đây, ai kêu gì tôi làm nấy, lúc bốc vác, khi đi phụ hồ. Nhưng không phải lúc nào cũng có việc làm đều đặn. Hơn 4 năm xin vào làm trong trang trại của chú Tư, tôi có công việc ổn định, lại không đòi hỏi kỹ thuật tay nghề cao. Hàng ngày, chúng tôi luân phiên cho heo ăn, quyét dọn chuồng trại. Với mức thu nhập hơn 10 triệu đồng/tháng, gia đình tôi vơi bớt khó khăn, lo cho 2 con ăn học”.

Chăn nuôi gia cầm, đừng nhầm lẫn giữa lượng nước đã sử dụng và lượng nước tiêu thụ (Phần 2/2)30/09/2021Trong bài viết tr...
01/10/2021

Chăn nuôi gia cầm, đừng nhầm lẫn giữa lượng nước đã sử dụng và lượng nước tiêu thụ (Phần 2/2)
30/09/2021
Trong bài viết trước, chúng tôi đã nêu rõ sự khác biệt giữa lượng nước sử dụng (WU) và lượng nước tiêu thụ (WC). Cụ thể: WU=WC+WS (trong đó WS là lượng nước bị tràn ra ngoài) trong chăn nuôi gia cầm.



Chăn nuôi gia cầm, đừng nhầm lẫn giữa lượng nước đã sử dụng và lượng nước tiêu thụ (Phần 1/2)


Chúng tôi muốn nhấn mạnh lại rằng việc tăng lượng nước cung cấp cho trại bằng cách tăng áp lực nước trong đường ống không có nghĩa là gia cầm sẽ uống được nhiều nước hơn. Để biết được lượng nước mà gia cầm hấp thu có tăng hay không ta chỉ có thể dựa vào tần suất gia cầm mổ vào núm uống mà thôi.



Những con mổ nhiều nước hơn cả thể tích mỏ có thể chứa sẽ làm nước đổ ra ngoài nhiều hơn những con còn lại. Nếu nước tràn nhiều đến mức làm ướt cả lớp độn chuồng, nó sẽ tạo ra một môi trường không tốt cho sức khỏe của gia cầm (tăng amoniac, viêm da, tăng nguy cơ nhiễm bệnh, …). Giải pháp là chú ý tới tình trạng của lớp độn chuồng và quản lý áp suất nước theo từng bước nhỏ cho đến khi lớp độn chuồng có độ ẩm thấp (khoảng 25%), nghĩa là nước đổ ra ngoài ít hơn khi gia cầm uống nước.Tuy nhiên, phân tích kỹ hơn một chút chúng ta có thể thấy không phải cứ khi lượng nước bị đổ ra ngoài nhiều thì lớp độn chuồng sẽ ướt. Nhiệt độ và vật liệu làm chất độn chuồng khác nhau cũng có thể là các yếu tố giữ lớp độn chuồng luôn khô ráo. Đặc biệt là khi quạt thông gió hoạt động tốt vào mùa hè thì gần như bất kỳ lượng nước tràn nào cũng có thể nhanh chóng bốc hơi khiến cho lớp độn chuồng luôn khô ráo.





Khi nhìn thấy lớp độn chuồng khô ráo, các nhà quản lý, chăn nuôi gia cầm thường chủ quan cho rằng không có hiện tượng nước bị tràn ra ngoài, và họ cho rằng gia cầm đang thiếu nước, nhất là vào mùa hè. Vậy là họ tăng áp lực nước để cung cấp nhiều nước hơn cho gia cầm.



Như các bạn đã biết, đây là tư duy phản tác dụng. Tăng áp lực nước quá mạnh không đồng nghĩa với việc tăng lượng nước hấp thu. Như chúng ta đã đề cập ở trên, gia cầm chỉ có thể giữ được một lượng nước nhất định trong mỏ của chúng với mỗi lần uống. Nếu nước chảy ra quá nhanh và nhiều sau mỗi lần mổ vào núm uống thì sẽ làm tăng lượng nước chảy ra ngoài.



Gia cầm có thể uống thêm nhiều nước vào mùa hè vì nóng và khát chứ không phải vì mỏ của chúng đã phát triển lớn hơn trước đó. Vì vậy nên việc cần làm lúc này là đảm bảo sao cho mật độ, độ cao của núm uống cũng như tốc độ nước ở mức thích hợp vừa phải đảm bảo gia cầm có thể dễ dàng tìm và uống nước một cách dễ dàng khi cần.





Ok, lúc này bạn tiếp tục thắc mắc vậy nếu như chuồng trại vẫn khô ráo thì việc nước bị đổ ra ngoài gây hại gì cho gia cầm của tôi? Vì rõ ràng là chuồng trại không quá ẩm ướt đến mức làm tăng lượng amoniac. Có 2 hậu quả bạn có thể không khó để nhận ra, đó là:



– Một là chi phí hóa đơn tiền nước của bạn chắc chắn sẽ cao hơn.



– Hai là: chúng tôi nhận thấy thường các trang trại chăn nuôi gia cầm ít khi để ý và điều chỉnh lại áp lực nước khi những ngày nắng nóng đã hết. Nghĩa là khi thời tiết đã mát mẻ trở lại, lượng nước cung cấp cho gia cầm vẫn chưa kịp điều chỉnh cho phù hợp nên thường chuồng trại sẽ ẩm ướt một thời gian trước khi họ kịp nhận ra và điều chỉnh áp lực nước trở lại mức phù hợp.Tóm lại, bạn nên theo dõi và điều chỉnh áp lực nước cho phù hợp theo mùa. Tốt nhất là bạn nên cẩn thận trong những tháng mùa đông khi mà hệ thống thông gió cũng không giúp được nhiều. Vào mùa hè, bạn có thể tăng áp lực nước lên một chút tùy nhu cầu nhưng không nên tăng quá mức cần thiết. Sau đó, khi thời tiết mát hơn, bạn cần chú ý điều chỉnh lại áp lực nước ở mức sao cho hiệu quả nhất để giảm thiểu tối đa thời gian gia cầm phải tiếp xúc với nước.

Hiểu đúng về bệnh Nipah ở lợn29/09/2021Theo WHO, không có bằng chứng về việc nhiễm NiV từ người sang nguời ở bang Kerala...
29/09/2021

Hiểu đúng về bệnh Nipah ở lợn
29/09/2021
Theo WHO, không có bằng chứng về việc nhiễm NiV từ người sang nguời ở bang Kerala (Ấn Độ). Tuy nhiên, việc giám sát NiV ở người và dơi ăn quả nên được duy trì.
Nipah là tên gọi một bệnh truyền nhiễm mới nổi gây các triệu chứng thần kinh và hô hấp ở lợn và người. Bệnh được phát hiện lần đầu tiên tháng 9 năm 1998 tại làng Ampang (cách thành phố Ipoh 8km), quận Kinta ở phía bắc bán đảo Malaysia. Truớc đó, vào khoảng năm 1997, nguời ta phát hiện có sự bùng phát bệnh đường hô hấp và viêm não ở lợn cùng huyện.Ban đầu, bệnh được coi là viêm não Nhật Bản. Sau đó, người ta cho rằng đây là một bệnh viêm não do virus giống Hendra. Tuy nhiên, vào ngày 10/4/1999, Bộ trưởng Bộ Y tế Malaysia công bố loại virus này là một loại virus mới có tên là Nipah.
Virus Nipah (NiV) là một loại virus paramyxovirus mới, có liên quan chặt chẽ với virus Hendra xuất hiện ở khu vực phía bắc bán đảo Malaysia vào năm 1998. NiV được phân lập từ dịch não tủy của một bệnh nhân ở làng Sungai Nipah và được xác định là tác nhân gây bệnh. Sau đó, nguời ta lấy tên này đặt cho tên bệnh.
Đến tháng 2/1999, các bệnh tương tự ở lợn và người là được công nhận ở miền trung và miền nam của bán đảo Malaysia, gắn liền với sự di chuyển lợn nội địa từ huyện Kinta về phía nam Malaysia. Năm 2001 và 2007, bệnh đuợc phát hiện tại Bangladesh và Ấn Độ. Có báo cáo bệnh xuất hiện tại Campuchia và Thái Lan.
Liên quan đến bệnh Nipah ở động vật và người có nhiều vấn đề cần làm rõ.
Thứ nhất, Nipah có truyền từ người sang người không? Cho đến nay chưa có bằng chứng chắc chắn. Đợt dịch 1998-1999 ở Malaysia, 3 y tá chăm sóc bệnh nhân viêm não có mẫu huyết thanh dương tính với kháng thể IgG của NiV. Tuy nhiên, người ta xác định đó là dương tính giả vì họ không có dấu hiệu viêm não và mẫu máu không có phản ứng IgM, đồng thời âm tính với kháng thể trung hòa NiV.
Ngày 23/5/2018, khi cung cấp tài liệu kỹ thuật và hướng dẫn về bệnh do virus Nipah cho Bộ Y tế và các cơ quan y tế của bang Kerala (Ấn Độ), WHO đã thông báo “Không có bằng chứng về việc nhiễm NiV từ người sang người ở bang Kerala. Tuy nhiên, việc giám sát NiV ở người và dơi ăn quả nên được duy trì ở những khu vực lưu hành”.
WHO cũng khuyến cáo “Có thể ngăn ngừa nhiễm NiV bằng cách tránh tiếp xúc với dơi và lợn bệnh ở những vùng lưu hành bệnh. Tránh ăn trái cây bị dơi bị nhiễm bệnh ăn một phần hoặc uống nhựa cây chà là sống, nước ép quả chà là”.Thứ hai, đặc điểm dịch tễ bệnh là gì? Chúng ta thử xem xét cách lây nhiễm ở lợn từ ổ dịch 1998-1999 tại Malaysia.
Dịch xảy ra ở lợn tại Malaysia 1998-1999, có liên quan đến loài dơi ăn quả thuộc chi Pteropus là nguồn dự trữ NiV tự nhiên. Như đã biết, Malaysia là quốc gia cọ dầu, trong khi dơi ăn quả rất thích ăn các trái cọ dầu, chà là.
Nguồn lây nhiễm cho lợn và người là phân, nước tiểu, và những trái cây thấm nước bọt của dơi nhiễm bệnh. Vào những năm 1990, tại Malaysia, Indonesia xảy ra nhiều vụ cháy rừng ảnh hưởng nghiêm trọng môi trường sống nhiều loài động vật hoang dã.
Việc này dẫn đến sự di cư của loài dơi đến các trang trại chăn nuôi nằm sâu trong các khe núi. Mặt khác, vào thời gian này, lượng mưa hằng năm thấp hơn trung bình các năm, dẫn đến hạn hán nghiêm trọng. Khói mù các vụ cháy rừng đã ảnh hưởng đến sự quang hợp của thực vật. Hậu quả là sự ra hoa và đậu trái bị ảnh hưởng, năng suất cây trồng trong đó có cọ dầu giảm mạnh.
Tập quán chăn nuôi lợn ở Malaysia có một số đặc thù. Để tránh bệnh truyền nhiễm, các trại lợn đều nằm sâu trong hẻm núi, nơi không có giao thông đi qua. Tại đây, người ta trồng một số loại cây lấy quả, trong đó có cọ dầu.
Các trại lợn thiết kế mái cho phép thu gom nước mưa để tắm cho lợn. Do mất môi trường sinh sống, loài dơi ăn quả di cư về đây. Chúng tha trái cây về đậu trên các cây để ăn, làm rơi rụng phần còn lại của quả cọ dầu đã nhiễm nước bọt.
Đồng thời, dơi cũng thải phân, nước tiểu xuống mái nhà, sau đó theo mưa trôi vào nền chuồng, dẫn tới lợn bị nhiễm bệnh từ dơi qua ăn, uống, tắm. Tuy nhiên, kể từ năm 1999 đến nay, Malaysia không ghi nhận ổ dịch Nipah nào.

Sử dụng chế phẩm chứa hoạt chất tannin (Silvafeed) thay thế kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi gia cầm27/09/2021[Tạp chí...
27/09/2021

Sử dụng chế phẩm chứa hoạt chất tannin (Silvafeed) thay thế kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi gia cầm
27/09/2021
[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Hiện nay, vấn đề tồn dư thuốc kháng sinh trong thực phẩm chăn nuôi đang là mối lo ngại chung của toàn xã hội, đặc biệt là đối với người tiêu dùng. Việc sử dụng kháng sinh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, sức khỏe con người, môi trường và là rào cản lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm động vật.



Vì vậy, sử dụng các hoạt chất có nguồn gốc thực vật thay thế kháng sinh là rất cần thiết không những tạo ra các sản phẩm sạch mà còn hạn chế được hiện tượng kháng kháng sinh đối với những vi khuẩn gây bệnh trên gia súc và con người. Do đó, thế giới, đặc biệt tại châu Âu đã ban hành luật cấm sử dụng kháng sinh như chất kích thích tăng trưởng trong thức ăn gia súc. Tại Việt Nam, sử dụng kháng sinh trong thức ăn gia súc cũng đang được quan tâm, hạn chế hơn thông qua ý thức của nhà chăn nuôi và quy định từ phía nhà nước. Tuy hạn chế hay không sử dụng kháng sinh như chất kích thích tăng trưởng được sự ủng hộ và yêu cầu của người tiêu dùng, nhưng điều này lại gây khó khăn cho nhà chăn nuôi bởi sẽ làm năng suất con thú giảm sút, và tăng chi phí chăn nuôi.Tannin (acid tannic) thuộc nhóm polyphenol, là hợp chất có cấu trúc phức tạp và được chia thành 2 nhóm tannin thủy phân và tannin cô đặc. Tannin (polyphenol) hiện diện trong hầu hết thực vật và có nhiều trong cà phê, trà, nho, cam thảo, dâu, cây hạt dẻ, các loại đậu…Tùy thuộc vào nguồn thực vật, thành phần và cấu trúc tannin cũng khác biệt rất lớn. Tannin thủy phân có tính năng kháng khuẩn mạnh hơn tannin cô đặc, và được phân hủy hấp thu phần nào trong đường tiêu hóa. Đáng chú ý, tannin từ cây hạt dẻ chỉ có tannin thủy phân.



Quan điểm truyền thống và một số công trình nghiên cứu khoa học trong dinh dưỡng thú đơn vị nói chung, và gia cầm nói riêng cho rằng tannin (tannic acid) là chất kháng dinh dưỡng, làm giảm lượng thức ăn ăn vào, giảm khả năng tiêu hóa và ảnh hưởng xấu đến năng suất vật nuôi. Tuy nhiên tác động không tốt của tannin từ những nghiên cứu trên là do hàm lượng tannin trong khẩu phần cao và nguồn tannin có cấu trúc không tốt, như tannin trong các loại cao lương.



Những nghiên cứu gần đây đã chứng tỏ khi tannin được sử dụng với liều lượng đúng mức, tùy nguồn gốc thực vật, và cấu trúc có thể nâng cao năng suất vật nuôi, tăng cường sức khỏe, kháng khuẩn và là một ứng cử viên có thể thay thế việc dùng kháng sinh trong khẩu phần gia cầm (Redondo và ctv., 2014). Tannin trong thực vật từ lâu đã được ứng dụng để điều trị tiêu chảy, tác động này càng rõ với các động vật có đường tiêu hóa ngắn như gia cầm. Thí nghiệm của Schiavoneetal và ctv., 2008 cho thấy chiết xuất tannin từ cây hạt dẻ giúp cải thiện đáng kể tăng trưởng của gà thịt, và giảm lượng nitơ trong chất độn chuồng giúp bảo vệ môi trường. Đặc biệt, tannin cũng có thể làm giảm ký sinh trùng đường ruột trên gia cầm (Marzoni và ctv ., 2005). Về tác động trên vi khuẩn, tannin thực vật có khả năng ức chế vi khuẩn phát triển và tác động đến vi khuẩn Gram dương mạnh hơn (Nohynek và ctv., 2006; Engels và ctv., 2011). Chiết xuất tannin từ cây hạt dẻ cũng cho kết quả ngăn ngừa các bệnh viêm ruột hoại tử do vi khuẩn Clostridium perfringens trên gia cầm cả lâm sàng và trong phòng thí nghiệm (Elizondo và ctv., 2010; Redondo và ctv., 2013; Tosi và ctv., 2013). Đồng thời, vi khuẩn Clostridium perfringens khó có khả năng đề kháng lại tannin như đối với kháng sinh (Redondo ctv., 2015), và điều này giúp nhà chăn nuôi an tâm sử dụng chế phẩm có chứa tannin lâu dài hơn. Kết quả trong phòng thí nghiệm của Lupini và ctv (2009) cho thấy tannin có thể ức chế một số virus gây bệnh trên gia cầm. Đồng thời, vì thuộc nhóm polyphenol, tannin cũng là chất chống oxy hóa tự nhiên mạnh cũng như vitamin E, và C. Theo tính toán, 3g tannin từ cây hạt dẻ tương đương 90,4mg vitamin E cho vào thức ăn. Bổ sung tannin vào thịt gia cầm chế biến làm tăng hạn sử dụng thêm 15 ngày (Malay và ctv., 2013). Với những ưu thế của tannin thì hiện nay tại Việt Nam có sản phẩm Silvafeed là sản phẩm được chiết xuất từ thân cây hạt dẻ có nguồn gốc Châu Âu có 170 năm kinh nghiệm nghiên cứu về tannin. Với thành phần Chỉ có tannin thủy phân (acid tannic ≥ 75%), dạng bột màu nâu đỏ, dễ tan trong nước, ethanol, acetone, glycerin v.v…Có mùi tương đối lạ, vị chát, 100% thuần tự nhiên, an toàn hữu hiệu.Thí nghiệm thực hiện trên 360 gà lai Chọi lúc 01 ngày tuổi với tỷ lệ trống mái là 1:1 được chia hoàn toàn ngẫu nhiên vào 4 nghiệm thức (NT), mỗi nghiệm thức gồm 90 con được nuôi trong 3 ô chuồng như 3 lần lặp lại, mỗi ô gồm 30 con, trọng lượng gà thí nghiệm tương đối ngang nhau đạt khoản 42gam/con. Sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và cho ăn tự do với các mức bổ sung tanin khác nhau là 300gam/tấn, 450gam/tấn, 600gam/tấn (Sivalfeed/thức ăn) và lô đối chứng. Thức ăn được cân và ghi chép theo ngày, khối lượng gà được cân theo tuần và được cân cố định vào 1 ngày trong tuần trước khi cho ăn, cân từng cá thể bằng cân điện tử SF 400 với sai số ± 1gam. Các chỉ tiêu theo dõi gồm gồm trọng lượng kết (gam/con), sinh trưởng tuyệt đối (gam/con/ngày), tiêu tốn thức ăn (FCR).



Kết quả thí nghiệm cho thấy trọng lượng kết thúc của gà lai Chọi từ 1 đến 13 tuần tuổi tăng dần qua các tuần tuổi ở các lô thí nghiệm với mức bổ sung Sivalfeed khác khau. Tuy có sự khác nhau về trọng lượng kết thúc ở các lô thí nghiệm nhưng không có sự khác biệt về thống kê ( P>0,05). Cả giai đoạn thí nghiệm sinh trưởng tuyệt đối ở lô NT 2 đạt cao nhất (21,1gam), tiếp đến là lô đối chứng (20,4gam), 2 lô thí nghiệm 2 và 3 bằng nhau (20,2gam). Tuy có sự khác nhau về mức sinh trưởng tuyệt đối ở các lô thí nghiệm nhưng không có sự khác biệt về thống kê (p>0,05). Đối với tiêu tốn thức ăn (FCR) thì kết quả cho thấy có sự khác nhau giữa các lô thí nghiệm qua từng tuần tuổi (bảng 1). FCR ở NT 1 là thấp nhất 2,63; tiếp đến NT 2 và NT 3; cao nhất là ở NT đối chứng là 3,09, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P

Address

Nhà Máy 3 Lô 3 Kcn/phú Thị/gia Lâm/hà Nôi
Gia Lâm
10000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Vỗ Béo Vật Nuôi 036.735.4081 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category